Quy định| Tin tức| Báo giá quảng cáo| Hỏi đáp| Hướng dẫn| Thanh toán| Đăng ký nhận tin| Hỗ trợ trực tuyến:       
Góp Ý| Liên hệ

Trang chủ Sản phẩm Rao vặt Gian hàng Sự kiện Đăng nhập Đăng ký

Transparent
Bán tên miền khachsanphaodai.com      Tên miền thinhgiau.com mua là giàu      Bảng giá máy tính xách tay hp      bán máy tính xách tay giá rẻ tại rạch giá      bán tên miền nhà sách kiên giang     
Transparent

Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014

Năm 2013, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức; nhưng với sự quyết tâm trong chỉ đạo điều hành, sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp, các tầng lớp nhân dân, của cộng đồng doanh nghiệp và quân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế-xã hội năm 2013 của tỉnh đạt được những kết quả, tiến bộ quan trọng.
Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014
Ảnh minh họa Kinh tế tiếp tục phát triển và ổn định, duy trì mức tăng trưởng khá. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) đạt 59.788 tỷ đồng (theo giá so sánh 2010), tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2012. Khu vực I tăng 5,41%; khu vực II tăng 10,71%; khu vực III tăng 12,31%. Trong đó, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế lĩnh vực: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 2,3%; Công nghiệp và xây dựng 2,54%; Dịch vụ 4,56%. Thu nhập bình quân đầu người 44,79 triệu đồng (2.113 USD) đạt 90,2% kế hoạch. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy đạt thấp hơn so với năm 2012 nhưng trong điều kiện nền kinh tế cả nước còn nhiều khó khăn thì đây là mức tăng trưởng khá và đạt khá so với tăng trưởng chung của cả nước (GDP đạt 5,4%) và các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long (xếp thứ 4/13 tỉnh, thành phố). Đối chiếu với các chỉ tiêu Nghị quyết HĐND giao năm 2013, có 14 chỉ tiêu ước đạt và vượt kế hoạch, 2 chỉ tiêu xấp xỉ đạt và 6 chỉ tiêu không đạt. Một số chỉ tiêu thực hiện đạt khá, vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra và tăng so với cùng kỳ như: + Sản lượng lúa đạt 4,47 triệu tấn, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ tỉnh (Nghị quyết Đại hội đến năm 2015 đạt 3,5 triệu tấn), là năm thứ 3 liên tiếp đạt sản lượng cao nhất cả nước. + Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản trên 581 ngàn tấn, tăng 6,04%. + Kim ngạch xuất khẩu 663 triệu USD, tăng 11,31%, riêng gạo xuất khẩu 1,020 triệu tấn, vượt 2% kế hoạch và tăng 0,49% so cùng kỳ. + Tổng thu ngân sách nhà nước 4.720 tỷ đồng, tăng 12,1%; thực hiện cắt giảm các khoản chi chưa thật sự cần thiết để bù đắp khoản hụt thu ngân sách của tỉnh, bằng 02 nguồn thu: Giữ 50% dự phòng của từng ngân sách là 83,445 tỷ đồng; tiết kiệm chi thường xuyên 7 tháng còn lại năm 2013 là 16,555 tỷ đồng. + Huy động vốn đầu tư toàn xã hội 28.155 tỷ đồng, tăng 15,36%, chiếm gần 34% GDP, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, xây dựng nông thôn mới và giao thông nông thôn tiếp tục được quan tâm đầu tư; đầu tư công được kiểm soát chặt chẽ, có trọng tâm, trọng điểm, từng bước khắc phục có hiệu quả đầu tư dàn trải. Các chính sách hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp theo Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ được triển khai thực hiện khá tốt, theo đó đã thực hiện giảm, giãn thuế cho các đối tượng với số tiền trên 424 tỷ đồng. Văn hóa- xã hội có chuyển biến tiến bộ, chất lượng dạy và học được nâng lên, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm; tình hình dịch bệnh xảy ra giảm so cùng kỳ. Các chính sách an sinh xã hội được triển khai thực hiện kịp thời, đã cấp 100% Bảo hiểm y tế cho hộ nghèo và cận nghèo, trợ cấp xã hội cho hơn 34.500 đối tượng với tổng kinh phí gần 114 tỷ đồng; tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm còn 4,73% (giảm 1% so năm 2012). Tổ chức tốt các ngày lễ, kỷ niệm quan trọng, qui mô, chất lượng được mở rộng và nâng lên, trong đó đã vận động quyên góp kinh phí trên 1,2 tỷ đồng từ các nhà hảo tâm, mạnh thường quân để tổ chức lễ hội Nguyễn Trung Trực, đây là điểm sáng trong việc huy động sức dân và cần tiếp tục phát huy, nhân rộng. Công tác tôn giáo, dân tộc được quan tâm thực hiện khá tốt. Công tác tiếp dân và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân, cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm chống lãng phí và phòng chống tham nhũng được quan tâm thực hiện. Quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững, ổn định; chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, một số loại tội phạm hình sự, tai nạn giao thông giảm nhẹ so năm trước; công tác đối ngoại được mở rộng, đến nay đã có mối quan hệ, làm ăn với hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế, khó khăn: Tốc độ tăng trưởng (GDP) đạt thấp so với kế hoạch và thấp hơn so với năm trước (2012 tăng 11,82%). Mức tăng ở các khu vực đều tăng thấp hơn so với năm 2012 (năm 2012: Khu vực I tăng 7,11%; khu vực II: 14,13%; khu vực III: 15,83%). Nguyên nhân, do ảnh hưởng khó khăn chung của nền kinh tế thế giới và trong nước; sức mua giảm, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp; sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn, hàng hóa tiêu thụ chậm; sản xuất công nghiệp tăng trưởng không cao; mặt hàng gạo do chịu sức ép cạnh tranh nên giá giảm mạnh và làm cho giá trị kim ngạch xuất khẩu sụt giảm so với kế hoạch; thời tiết diễn biến phức tạp, dịch bệnh xảy ra trên lúa, tôm nuôi làm giảm năng suất và sản lượng. Lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản: Do năng lực lãnh đạo, điều hành của một số chủ đầu tư có mặt còn hạn chế, từng lúc thiếu quyết liệt và chưa sâu sát; hiệu quả hoạt động của các Ban quản lý còn hạn chế và chưa kịp thời củng cố, kiện toàn; năng lực của một số nhà thầu yếu, kém..., làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện và giải ngân vốn. Huy động các nguồn lực cho đầu tư còn nhiều khó khăn nên việc triển khai đầu tư một số chương trình mục tiêu, dự án còn chậm như: Xây dựng xã nông thôn mới; đầu tư giao thông nông thôn; hạ tầng các khu công nghiệp. Việc kêu gọi các nhà đầu tư vào 02 khu công nghiệp còn gặp khó khăn. Tình hình dịch bệnh tuy giảm nhưng có nguy cơ bùng phát cao; tình trạng quá tải ở bệnh viện còn xảy ra, chậm được khắc phục nhưng việc triển khai đầu tư xây dựng các bệnh viện còn chậm. Hệ thống trường, lớp học và đội ngũ giáo viên hiện nay vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng đủ theo yêu cầu. Cải cách hành chính còn một số hạn chế, chất lượng nâng lên chưa nhiều; việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đang là khâu yếu của các sở ngành, địa phương. Tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai tuy giảm nhưng tính chất, mức độ từng lúc vẫn còn gay gắt, phức tạp, khiếu nại đông người vẫn còn xảy ra ở một số địa phương. Tội phạm giết người do mâu thuẫn cá nhân, tội phạm kinh tế, án tham nhũng có xu hướng gia tăng, tính chất nghiêm trọng và mức độ tinh vi hơn. Nguyên nhân của những hạn chế yếu kém nêu trên, bên cạnh nguyên nhân khách quan, có nguyên nhân chủ quan đó là: Tinh thần trách nhiệm, nhất là người đứng đầu của một số cơ quan, đơn vị và địa phương chưa cao, trong lãnh đạo tổ chức thực hiện có lúc, có nơi còn thiếu sâu sát, thiếu quyết liệt, nhất là trong xử lý một số vấn đề vướng mắc thuộc thẩm quyền của ngành, của địa phương. Năm 2014 có ý nghĩa quan trọng và quyết định đối với việc thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ IX và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2011-2015) của UBND tỉnh. Theo dự báo, tình hình chính trị - xã hội tiếp tục ổn định, sự phục hồi của nền kinh tế nước ta sẽ rõ rệt hơn. Chính phủ sẽ ban hành các chính sách hỗ trợ cho: Các đối tượng chính sách, người lao động và người thu nhập thấp; tháo gỡ khó khăn hỗ trợ sản xuất kinh doanh; hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm nông sản, trong đó có: lúa, tôm. Một số dự án, công trình trọng điểm của tỉnh sẽ hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng như: Cầu sông Cái Bé, Cái Lớn, cầu Trung tâm lấn biển Tp. Rạch Giá, đường điện tuyến cáp ngầm Hà Tiên – Phú Quốc. Một số công trình được khởi công mới: Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện Ung Bướu, đường 964, Quốc lộ 80 mới (đoạn Lộ Tẻ - Rạch Giá), đê biển (đoạn Rạch Giá – Hòn Chông); các chính sách thu hút đầu tư vào Phú Quốc và các khu công nghiệp của tỉnh sẽ được ban hành; những thành tựu đã đạt được từ sau Đại hội Đảng bộ lần thứ IX đến nay…, sẽ tạo tiền đề và động lực thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn: Sự phục hồi của nền kinh tế nước ta còn chậm. Kết cấu hạ tầng của tỉnh vẫn còn yếu kém, nhất là giao thông, du lịch; nhu cầu đầu tư lớn nhưng nguồn vốn chưa đáp ứng; các chính sách thu hút đầu tư chậm được ban hành. Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là lao động có tay nghề còn thiếu và yếu. Tình hình thời tiết, dịch bệnh ở cây trồng, vật nuôi, ở người diễn biến khó lường, còn tiềm ẩn nguy cơ; một số vấn đề bức xúc xã hội chưa được giải quyết. Tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai vẫn còn gay gắt, phức tạp. Xuất phát từ tình hình trên, UBND tỉnh đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, cụ thể như sau: Mục tiêu chủ yếu của năm 2014 là: Tích cực huy động các nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ, trong đó tập trung huy động có hiệu quả nguồn lực trong dân để đầu tư giao thông nông thôn, xây dựng nông thôn mới; phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt từ 10,5% trở lên. Triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động tái cơ cấu nền kinh tế của tỉnh, chú trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ, duy trì phát triển và tăng trưởng nông nghiệp ở mức hợp lý. Tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và nâng cao đời sống nhân dân, đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa lĩnh vực văn hóa – xã hội; tập trung giải quyết có hiệu quả các vấn đề bức xúc xã hội. Tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại. Củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí, cải cách thủ tục hành chính. Trên cơ sở mục tiêu tổng quát nêu trên, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 phấn đấu đạt các mục tiêu chủ yếu sau đây: - Tốc độ tăng trưởng kinh tế (giá so sánh 2010) đạt 10,5% trở lên. Thu nhập bình quân đầu người 50,59 triệu đồng/người/năm (tương đương 2.364USD). Cơ cấu kinh tế: khu vực I chiếm 38,3%, khu vực II chiếm 25%, khu vực III chiếm 36,7%. - Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng 4,1%, sản lượng lúa đạt 4, 6 triệu tấn. - Giá trị sản xuất thuỷ sản tăng 8,3%, sản lượng khai thác và nuôi trồng thuỷ sản đạt 612.850 tấn (sản lượng khai thác 445.000 tấn, nuôi trồng 167.850 tấn, trong đó: tôm 52.000 tấn). - Giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN (giá so sánh 2010) đạt 32.630 tỷ đồng, tăng 8%. - Tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt 15%. Kim ngạch xuất khẩu đạt 670 triệu USD (thuỷ sản 175 triệu USD, nông sản 440 triệu USD, các mặt hàng khác 55 triệu USD); kim ngạch nhập khẩu 40 triệu USD. Tổng mức hàng hoá bán lẻ tăng 15%. - Tổng vốn đầu tư trên địa bàn 32.500 tỷ đồng, tăng 15,43% năm 2013, trong đó: Vốn đầu tư do ngân sách địa phương quản lý 4.353,8 tỷ đồng. - Tổng thu ngân sách trên địa bàn 4.988 tỷ đồng, tăng 5,7% so năm 2013, tổng chi ngân sách 8.962 tỷ đồng, trong đó: chi đầu tư phát triển 1.999,28 tỷ đồng. - Tỷ lệ xã trong đất liền có đường ô tô đến trung tâm xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạt 98,06%. - Giảm tỷ lệ sinh 0,2‰, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 10,13‰, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng 14,2%. - Tỷ lệ huy động học sinh từ 6-14 tuổi đến trường đạt trên 96%. - Phấn đấu 65% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (theo chuẩn mới). - Số lao động được giải quyết việc làm 33.000 người, trong đó: đào tạo nghề 25.000 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo 47%, trong đó: lao động qua đào tạo nghề 33,8%. - Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 1% đến 1,5% (theo tiêu chí mới), riêng các xã đặc biệt khó khăn từ 2% trở lên. - Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế 62%. - Tỷ lệ hộ sử dụng điện 98%. - Tỷ lệ dân số sử dụng nước hợp vệ sinh 85%. - Tỷ lệ che phủ rừng 11,9%. - Công tác tuyển quân đạt 100% kế hoạch. - Phấn đấu kiềm chế không để tai nạn giao thông xảy ra tăng so với năm 2013. Các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra trong năm 2014 như sau: 1. Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát Kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Triển khai thực hiện kịp thời, có hiệu quả chính sách tiền tệ và các giải pháp tiền tệ, tín dụng phù hợp với tình hình địa phương. Tích cực huy động vốn tại địa phương và vốn vay điều hòa của hệ thống, đảm bảo cung ứng đủ kịp thời vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tiếp tục ưu tiên cho vay nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; tăng dư nợ tín dụng phù hợp và đảm bảo chất lượng tín dụng. Tăng cường giám sát các tổ chức tín dụng trên địa bàn chấp hành nghiêm pháp luật tiền tệ, tín dụng, an toàn hoạt động và thực hiện cơ cấu lại tổ chức tín dụng xử lý nợ xấu theo đề án phê duyệt. Thực hiện tốt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt; cung ứng đầy đủ, kịp thời số lượng, cơ cấu tiền mặt phục vụ nhu cầu thanh toán của nền kinh tế. Tăng cường khai thác, quản lý thu ngân sách nhà nước, chống thất thu nợ đọng thuế nhất là các khoản thu liên quan đến đất đai, tài nguyên... Tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa kiểm soát chặt chẽ, triệt để tiết kiệm để tăng chi, tập trung ưu tiên cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, bảo vệ môi trường, đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện cải cách tiền lương. Thực hiện nghiêm túc việc phân bổ, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo chỉ đạo Chính phủ để nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư công. Tăng cường theo dõi, kiểm tra kiểm soát việc kê khai thuế của các tổ chức cá nhân, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, gian lận thuế. 2. Tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm tăng trưởng hợp lý - Tập trung tái cơ cấu và phát triển ngành nông nghiệp theo hướng thâm canh tăng năng suất, nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm, nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững góp phần tăng thu nhập cho nông dân, bảo đảm an sinh xã hội và môi trường, theo đó chỉ đạo tiếp tục tăng diện tích gieo sạ lúa vụ Đông Xuân; giảm diện tích gieo sạ lúa vụ Thu Đông ở một số vùng sản xuất chưa đảm bảo và vụ Mùa ở các vùng ven biển do bị nhiễm mặn trồng lúa kém hiệu quả; chuyển một phần diện tích gieo sạ lúa vụ Hè Thu ở những nơi có điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất rau màu tập trung. Tiếp tục xây dựng và nhân rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn sản xuất theo hướng VietGAP; áp dụng quy trình sản xuất 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm trên vùng quy hoạch phát triển nguyên liệu lúa chất lượng cao 120.000 ha để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, diện tích lúa chất lượng cao chiếm 70% diện tích gieo trồng. Chỉ đạo thực hiện tốt việc chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi và thủy sản. Phấn đấu diện tích gieo trồng lúa đạt 769.500 ha, năng suất bình quân 5,98 tấn/ha; sản lượng 4,6 triệu tấn, tăng 2,96% (tương đương 132.353 tấn) so với năm 2013. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án quy hoạch vùng sản xuất chuyên canh chất lượng cao đến năm 2015, gắn với thực hiện thí điểm phương án kế hoạch liên kết giữa các doanh nghiệp xuất khẩu gạo và nông dân sản xuất lúa. Đầu tư xây dựng các cống ven biển, đập kiểm soát lũ, xâm nhập mặn, nạo, vét các kênh cấp xã..., phục vụ cho sản xuất và nuôi trồng thủy sản vùng Hà Tiên, Giang Thành và Kiên Lương; xây dựng các tuyến đường giao thông và mạng lưới điện đến các vùng nuôi tôm trọng điểm để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng diện tích, tăng sản lượng. Ưu tiên giao thêm đất cho các doanh nghiệp có đủ năng lực để đầu tư mở rộng sản xuất và xây dựng các nhà máy chế biến: Thủy sản, gạo..., đồng thời thu hồi đất các doanh nghiệp không có khả năng tài chính và giải quyết dứt điểm đền bù đất để giao cho các doanh nghiệp triển khai dự án. Thực hiện có kết quả chính sách bảo vệ và phát triển rừng để tổ chức, cá nhân hộ gia đình hưởng lợi lâu dài, tăng mật độ che phủ, hạn chế xói mòn, rửa trôi, sạt lở đất; tăng cường công tác phòng, chống cháy rừng. Thực hiện tốt việc phân bổ kinh phí cho địa phương để thực hiện hỗ trợ cho người sản xuất lúa và hỗ trợ địa phương theo Nghị định số 42/2012/NĐ-CP của Chính phủ về việc quản lý sử dụng đất trồng lúa. Triển khai thực hiện chính sách đầu tư và hỗ trợ lãi suất cho nông dân mua các loại máy cơ giới, trong đó tập trung đầu tư lò phơi sấy, máy gặt đập liên hợp, điện bơm tát, dụng cụ sạ hàng, các kho chứa lúa để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Khuyến khích hợp tác, liên kết từ sản xuất, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm hài hòa lợi ích. Đẩy mạnh công tác khuyến nông về chăn nuôi; tổ chức thực hiện chính sách phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm; tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở nuôi tiếp tục phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung công nghiệp, bán công nghiệp. Tiếp tục mở rộng diện tích nuôi cua kết hợp với nuôi tôm để tăng giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích; mở rộng diện tích nuôi sò huyết thâm canh ven biển các huyện An Biên, An Minh. Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ, hoán đổi, đầu tư đóng mới phương tiện đánh bắt xa bờ, đồng thời khuyến khích và hỗ trợ phát triển nuôi cá lồng bè trên biển quanh đảo các huyện Phú Quốc, Kiên Hải, Kiên Lương và thị xã Hà Tiên. Phối hợp với các ngành và địa phương tổ chức tuyên truyền chủ quyền biển đảo, phổ biến cho ngư dân về pháp luật có liên quan đến hoạt động khai thác hải sản và các biện pháp ngăn chặn tình trạng ngư dân vi phạm khai thác hải sản vùng biển nước ngoài. - Chỉ đạo thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư xây dựng cho 35 xã nông thôn mới giai đoạn 2011– 2015. Huy động nguồn lực toàn xã hội để xây dựng các xã nông thôn mới, trong đó chú trọng xây dựng các tiêu chí đạt còn thấp như: Giao thông, cơ sở vật chất văn hóa, trường học, môi trường và nhà ở dân cư. Phấn đấu xây dựng thêm 3 xã đạt tiêu chí xã nông thôn mới, nâng tổng số 5 xã đạt tiêu chí xã nông thôn mới và các xã trong 35 xã điểm đạt thêm 2 tiêu chí vào cuối năm 2014. - Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch, củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu, nhất là các thị trường có sức mua lớn; gắn với nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư, thương mại. Nâng cao khả năng dự báo và hỗ trợ doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh các sản phẩm chủ lực như: Tôm đông, mực đông, gạo; tăng tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao, hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng gian, hàng giả. Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Thạnh Lộc, Thuận Yên và khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Hà Tiên, trong đó tích cực kêu gọi, sớm ban hành cơ chế chính sách thu hút nhà đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư triển khai các dự án: Nhà máy chế biến gỗ (MDF), nhà máy bia Sài Gòn, may mặc, da giày…, tại khu công nghiệp Thạnh Lộc. Tiếp tục thực hiện hiệu quả cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam; xây dựng và thực hiện đề án đưa hàng Việt về nông thôn, vùng biên giới; tổ chức và tham gia các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước nhằm đẩy mạnh xúc tiến quảng bá sản phẩm hàng hóa. Thực hiện đồng bộ các giải pháp, đẩy nhanh tiến độ xây dựng đường dây trung thế, hạ thế vùng nông thôn chưa có điện, đầu tư điện phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hoàn thành đầu tư đường điện cáp ngầm ra đảo Phú Quốc. Hoàn thành quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các khu đô thị, cấp thoát nước, chất thải rắn... Tăng cường quản lý đầu tư xây dựng, quản lý đô thị. Tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, tiếp tục thực hiện chương trình xây nhà ở xã hội, nhà cho người nghèo, người có công, cụm tuyến dân cư giai đoạn 2. - Tăng cường quản lý nhà nước về chất lượng phương tiện, dịch vụ, an toàn giao thông. Tập trung đầu tư giao thông nông thôn, trong đó ưu tiên bố trí vốn cho xã nông thôn mới, phấn đấu hoàn thành 3 tuyến đường về trung tâm xã, nâng tổng số xã trong đất liền được nhựa hóa đạt 100/103 xã. - Hoàn thành việc xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động tái cơ cấu nền kinh tế của tỉnh theo Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ triển khai thực hiện Đề án trong 03 năm 2013-2015; chú trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ. Tích cực huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Ban hành cơ chế, chính sách thu hút đầu tư hiệu quả hơn; đẩy mạnh kêu gọi và thu hút đầu tư, nhất là các nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm để đầu tư vào các công trình, dự án lớn, sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu lao động; tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư sớm triển khai các dự án, nhất là triển khai các dự án của các nhà đầu Singapore tại Phú Quốc đã được thỏa thuận giữa Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long. Tiếp tục rà soát kiến nghị với Trung ương sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách trong quản lý đầu tư xây dựng phù hợp với thực tế; đi đôi với rà soát các quy định có liên quan đầu tư xây dựng để đề xuất loại bỏ những quy định không cần thiết, đơn giản hóa các thủ tục đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định của từng cấp. Chấn chỉnh công tác đấu thầu và tăng cường trách nhiệm của cơ quan lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư thuộc thẩm quyền. Tăng cường thanh tra, giám sát hiệu quả sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ. Nâng cao năng lực, trách nhiệm trong việc phân bổ, sử dụng các nguồn vốn ngân sách nhà nước; sự phối hợp của các ngành, địa phương và các chủ đầu tư giải quyết có hiệu quả các khó khăn vướng mắc, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư để nhà thầu triển khai đầu tư dự án theo tiến độ. Gắn củng cố, kiện toàn với nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Ban Quản lý dự án ở các sở và địa phương. Tập trung đầu tư vào một số công trình trọng điểm như: Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Ung bướu; đường Tỉnh lộ 964; các dự án phục vụ nuôi trồng thủy sản, nuôi tôm công nghiệp, các công trình trọng điểm trên đảo Phú Quốc. 3. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển khoa học công nghệ. Chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết của Trung ương, kế hoạch của UBND tỉnh về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; từng bước đầu tư nâng cấp đê biển. Tăng cường kiểm soát khai thác, sử dụng, xả nước thải vào nguồn nước. Triển khai thực hiện dự án: Điều chỉnh bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản 2013- 2018. Triển khai thực hiện dự án tổng thể xây dựng hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai. Hoàn thành quy hoạch sử dụng đất các huyện, thị, thành phố đến năm 2020, cấp giấy chứng nhận sử dụng đất cho các đối tượng theo Nghị quyết số 30/2012/QH13 của Quốc hội. Triển khai thực hiện Luật Đất đai sửa đổi, tổ chức thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh đến năm 2020. Thực hiện các biện pháp bảo vệ, phát triển bền vững tài nguyên, khoáng sản, môi trường và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm, trong đó có biện pháp xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường ở Tắc Cậu – Châu Thành. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về vai trò, vị trí chiến lược của biển đảo. - Tăng cường đầu tư công nghệ mới, nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Thực hiện có hiệu quả các đề án, dự án về tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ. Đẩy mạnh thực hiện Chương trình bảo tồn phát triển các giá trị Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang; chương trình chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ xây dựng phát triển vùng nông thôn mới. Xúc tiến xây dựng Trung tâm Nghiên cứu khoa học tại Cửa Cạn - Phú Quốc; thực hiện dự án phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2015. 4. Phát triển văn hóa xã hội và bảo đảm an sinh xã hội - Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh, trong đó xác định rõ nhu cầu nhân lực ở các trình độ phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và thị trường lao động; chú trọng tuyển chọn, đào tạo, thu hút, sử dụng nhân tài và nhân lực chất lượng cao; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Tập trung chỉ đạo thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển các ngành học, cấp học theo hướng tăng quy mô, giảm điểm lẻ phù hợp với điều kiện của địa phương và theo quy hoạch nhằm đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý và nâng cao chất lượng dạy học. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục trong đồng bào dân tộc Khmer, phổ cập giáo dục, nhất là phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi; phân luồng giáo dục, đào tạo nghề, góp phần giảm tỷ lệ học sinh lưu ban bỏ học ở tất cả các cấp học. Tổ chức thực hiện có hiệu quả đề án xây dựng xã hội học tập và xóa mù chữ đến năm 2020. Củng cố, kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý; gắn đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, với ban hành cơ chế chính sách thu hút, tuyển dụng, luân chuyển, biệt phái và giải quyết đầu ra cho giáo viên, khắc phục trình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ. Tăng cường đầu tư, mở rộng xây dựng các trường điểm, trường đạt chuẩn quốc gia và chất lượng cao, chú trọng đầu tư cơ sở vật chất các trường tiểu học và mầm non. Thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục và huy động các nguồn lực đầu tư cho giáo dục. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra quản lý chất lượng đào tạo đối với các Chương trình liên kết đào tạo liên thông đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh. - Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở, nhất là vùng sâu, vùng xa, đảm bảo cho mọi người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng. Đẩy mạnh thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia. Củng cố và nâng cao hiệu quả y tế dự phòng, chủ động phòng, chống dịch bệnh không để dịch lớn xảy ra. Nâng cao y đức, giáo dục đạo đức nghề nghiệp, thái độ phục vụ nhân dân; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở tuyến huyện, các Phòng khám khu vực nhằm giảm tải cho bệnh viện tuyến tỉnh; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ y, bác sĩ, trong đó quan tâm đào tạo chuyên khoa, chuyên sâu ở một số lĩnh vực có nhu cầu để đón đầu và chuẩn bị lực lượng Bác sĩ có trình độ chuyên môn cao phục vụ ở các Bệnh viện chuyên khoa. Thực hiện chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sở khám, chữa bệnh; thực hiện đề án khuyến khích đào tạo và phát triển nhân lực y tế các chuyên ngành lao, phong, tâm thần, pháp y và giải phẫu bệnh giai đoạn 2013-2020 theo chỉ đạo của Chính phủ. Tăng cường thanh, kiểm tra hành nghề y dược tư nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn, không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng. Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục, thực hiện đồng bộ các giải pháp kiểm soát dân số; nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. - Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, nhất là đối tượng chính sách, người có công và chính sách trợ giúp người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn sản xuất. Đẩy mạnh phát triển thị trường lao động, tăng cường các hoạt động thông tin về lao động, việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động. Nâng cao hiệu quả dạy nghề, nhất là cho lao động ở nông thôn. Tiếp tục huy động các nguồn lực xã hội chăm lo đối tượng chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội, xây dựng nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách. Thực hiện tốt việc hỗ trợ bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em nghèo nhằm giảm bất bình đẳng về cơ hội phát triển của trẻ em. Thực hiện các chính sách hỗ trợ về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn. Tăng cường công tác quản lý nhà nước và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tích cực hưởng ứng tham gia mua bảo hiểm y tế tự nguyện, hạn chế thấp nhất tình trạng sai sót, trùng lắp trong việc cấp thẻ bảo hiểm y tế gây lãng phí. - Tăng cường công tác quản lý nhà nước lĩnh vực văn hóa và các hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin, các lễ hội, quản lý di tích; tiếp tục phát huy và nhân rộng các mô hình xã hội hóa có hiệu quả nhằm hạn chế sử dụng ngân sách nhà nước để tổ chức các lễ hội. Thực hiện có hiệu quả phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; quan tâm chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; nâng cao chất lượng hoạt động phục vụ sách, báo tại các điểm bưu điện văn hóa xã; đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao; chỉ đạo hoàn thành Đại hội Thể dục Thể thao 02 cấp, tiến tới tham gia Đại hội Thể dục, Thể thao toàn quốc lần thứ VII. Tiếp tục đầu tư các thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở. Chỉ đạo tổ chức các sự kiện quan trọng, các ngày lễ kỷ niệm năm chẵn 2014. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư cơ sở hạ tầng các khu du lịch, gắn khuyến khích đầu tư phát triển các cơ sở lưu trú chất lượng cao (đạt chuẩn cấp sao) với tạo điều kiện cho các nhà đầu tư sớm triển khai xây dựng các dự án du lịch. Tổ chức nghiên cứu, khảo sát, liên kết, hợp tác các thị trường du lịch trọng điểm tại các tỉnh, thành phố miền Trung, Tây Nguyên, Cần Thơ. Nâng cao chất lượng và đa dạng hoá sản phẩm du lịch, xây dựng các loại hình hoặc tour, tuyến du lịch đặc trưng, tăng tính cạnh tranh. Chỉ đạo tiếp tục tăng cường quản lý môi trường đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch trên địa bàn tỉnh theo Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 04/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp tục triển khai thực hiện các Kế hoạch, Chương trình hành động về phát triển du lịch đến 2020 và hoàn thành các đề án về du lịch của tỉnh đến năm 2020. Triển khai thực hiện một số cơ chế, chính sách về đầu tư, giao đất, cho thuê đất các khu du lịch trên đảo Phú Quốc. - Tiếp tục thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, tạo sự đồng thuận xã hội cao trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường đưa thông tin về cơ sở, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý nhà nước; tăng cường công tác quản lý nhà nước về thông tin truyền thông. Hoàn thành quy hoạch phát triển mạng lưới Bưu chính công cộng và rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phát triển viễn thông, hạ tầng viễn thông thụ động tỉnh đến 2020 và định hướng đến 2025. 5. Tăng cường quốc phòng, an ninh; thực hiện có hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế Duy trì nghiêm công tác trực sẵn sàng chiến đấu, thường xuyên nắm chắc tình hình, ngăn chặn xử lý kịp thời các tình huống, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; gắn phát triển kinh tế với quốc phòng an ninh, khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc. Tổ chức tốt công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2014 và diễn tập các cấp theo kế hoạch. Triển khai thực hiện có hiệu quả các biện pháp đảm bảo an ninh, trật tự các địa bàn tuyến biên giới, biển đảo; chủ động phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các tổ chức phản động, thế lực thù địch. Đẩy mạnh công tác phòng chống tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm hình sự nguy hiểm, tội phạm mạng và kiềm chế có hiệu quả tai nạn giao thông. Phấn đấu không để tai nạn giao thông xảy ra tăng so với năm 2013. Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án của tỉnh về “nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo vệ an ninh, trật tự của lực lượng Công an xã giai đoạn 2014-2020”; tổ chức Hội nghị tổng kết 30 năm về công tác bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo chỉ đạo của Trung ương; tổng kết thực hiện Đề án về "Xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Các địa phương tăng cường phối hợp với ngành chức năng chỉ đạo tổ chức tốt việc đối thoại, tiếp công dân. Tiếp tục kiểm tra, rà soát các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng kéo dài liên quan đến đất đai để tập trung giải quyết dứt điểm; chủ động nắm tình hình, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể, giải quyết và ngăn chặn kịp thời các khiếu nại tố cáo, xử lý phù hợp tại cơ sở, hạn chế khiếu nại vượt cấp. Phấn đấu giải quyết đơn khiếu nại, tranh chấp đất đai đạt từ 90% trở lên; đơn tố cáo đạt 100%; quyết định có hiệu lực pháp luật đạt trên 85%. Đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao trên các lĩnh vực; sơ kết các chương trình hợp tác phát triển kinh tế, thương mại giữa Kiên Giang với các tỉnh giáp biên của Campuchia và các tỉnh, thành phố ở các nước mà tỉnh có quan hệ hợp tác; mở rộng các quan hệ hợp tác mới để xúc tiến quảng bá tiềm năng và thế mạnh của tỉnh và tạo cơ hội cho các đối tác đến tìm hiểu và đầu tư vào các lĩnh vực tỉnh có nhu cầu kêu gọi đầu tư. Tăng cường hợp tác với chính quyền và lực lượng vũ trang các tỉnh, thành của Campuchia giáp biên để thực hiện tốt công tác bảo vệ an ninh - trật tự khu vực biên giới và tiếp tục triển khai thực hiện cắm mốc biên giới trên bộ. 6. Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011- 2020. Tập trung vào đơn giản hóa thủ tục hành chính; rà soát điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức, biên chế, quy chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục triển khai thực hiện đề án thực hiện cơ chế một cửa ở các địa phương đã được phê duyệt. Đề cao trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ và trách nhiệm người đứng đầu. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành tại các cơ quan hành chính nhà nước từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn. Chỉ đạo tiếp tục nâng cao thứ hạng năng lực cạnh tranh của tỉnh (CPI), gắn với cải thiện các chỉ số năng lực cạnh tranh còn thấp. Tiếp tục đầu tư xây dựng hoàn thiện mô hình một cửa điện tử ở các huyện. Tăng cường thực hiện kiểm tra thủ tục hành chính, thanh tra công vụ ở các cấp. Đẩy mạnh đào tạo nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhất là ở cơ sở. Rà soát sắp xếp biên chế hiện có theo vị trí việc làm, thực hiện chính sách tinh giản biên chế và có phương án xử lý cán bộ, công chức, viên chức dôi dư sau khi sắp xếp lại theo chỉ đạo của Chính phủ. Hoàn chỉnh xây dựng Đề án vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập trình Bộ Nội vụ thẩm định; triển khai xây dựng Đề án vị trí việc làm trong các cơ quan hành chính các cấp; tiếp tục tổ chức thi tuyển công chức năm 2014 theo hướng cạnh tranh và áp dụng tin học vào công tác thi tuyển; xây dựng và triển khai thực hiện thí điểm đề án “Thi tuyển chức danh lãnh đạo quản lý các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh”. Phấn đấu hoàn thành trình Trung ương Đề án thành lập đơn vị đặc khu hành chính - kinh tế Phú Quốc, nâng thành phố Rạch Giá và huyện Phú Quốc đạt đô thị loại II, thành lập thành phố Phú Quốc và thành phố Hà Tiên, huyện Kiên Lương lên thị xã. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng chống tham nhũng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thanh tra Chính phủ. Đi đôi với tăng cường đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, đặc biệt trong các lĩnh vực quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý vốn, tài sản của nhà nước. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện nghiêm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; triệt để tiết kiệm, nhất là trong hội họp, tiếp khách, đi công tác nước ngoài... Phát huy vai trò của Mặt trận, các đoàn thể và quần chúng nhân dân, cơ quan báo chí trong việc giám sát cơ quan hành chính nhà nước, việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức để kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm./. Huỳnh Xuân Luật (Phòng Tổng hợp-VP.UBND tỉnh)
[Trở về] Các tin tức khác
máy chiếu sony vpl ex 570
congtytinhochiepnhat - Kiên Giang
Call - 11:19 | 04.04
máy chiếu sony vpl dx221
congtytinhochiepnhat - Kiên Giang
12,500,000 VNĐ - 12:00 | 05.01
Trực tuyến Trực tuyến Trực tuyến483
Sản phẩm hôm nay Sản phẩm hôm nay233
Rao vặt hôm nay Rao vặt hôm nay17
Sản phẩm hiện tại Sản phẩm hiện tại7,142
Rao vặt hiện tại Rao vặt hiện tại122,447
Thành viên Thành viên17,363
Lượt truy cập Lượt truy cập262,383


Website screenshot generator
Trang chủ| Sản phẩm| Rao vặt| Gian hàng| Danh bạ website| Sản phảm khuyến mãi| Đăng nhập| Đăng ký
 

Copyright © 2017 www.kiembac.com
Thông tin liên hệ: 628A Ngô Quyền - An Hòa - TP Rạch Giá - Kiên Giang, Điện thoại hỗ trợ: 0972.953.953
info@kiembac.com